Tìm kiếm tin tức
Liên kết website
QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT PHÒNG, CHỐNG BỆNH TRUYỀN NHIỄM
Ngày cập nhật 08/04/2020

QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT PHÒNG, CHỐNG BỆNH TRUYỀN NHIỄM

 

QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT PHÒNG, CHỐNG BỆNH TRUYỀN NHIỄM

 

Dịch Covid–19 là bệnh truyền nhiễm nhóm A

Hỏi: Hiện nay, đã có nhiều quốc gia, vùng lãnh thổ có dịch Covid-19. Dịch Covid -19 lây lan với tốc độ rất nhanh với ảnh hưởng nặng nề đến sức khỏe, tính mạng của người bị nhiễm. Dịch Covid–19 có phải là bệnh truyền nhiễm không và thuộc nhóm nào?

Trả lời:  

- Khoản 1 Điều 2  Luật phòng, chống bệnh truyền nhiễm năm 2007 quy định:  Bệnh truyền nhiễm là bệnh lây truyền trực tiếp hoặc gián tiếp từ người hoặc từ động vật sang người do tác nhân gây bệnh truyền nhiễm.

- Điều 3 của Luật phân loại bệnh truyền nhiễm gồm các nhóm sau đây:

+ Nhóm A gồm các bệnh truyền nhiễm đặc biệt nguy hiểm có khả năng lây truyền rất nhanh, phát tán rộng và tỷ lệ tử vong cao hoặc chưa rõ tác nhân gây bệnh.

Các bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm A bao gồm bệnh bại liệt; bệnh cúm A-H5N1; bệnh dịch hạch; bệnh đậu mùa; bệnh sốt xuất huyết do vi rút Ê - bô - la (Ebola), Lát-sa (Lassa) hoặc Mác-bớc (Marburg); bệnh sốt Tây sông Nin (Nile); bệnh sốt vàng; bệnh tả; bệnh viêm đường hô hấp cấp nặng do vi rút và các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm mới phát sinh chưa rõ tác nhân gây bệnh;

+ Nhóm B gồm các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm có khả năng lây truyền nhanh và có thể gây tử vong.

Các bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm B bao gồm bệnh do vi rút A-đê-nô (Adeno); bệnh do vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS); bệnh bạch hầu; bệnh cúm; bệnh dại; bệnh ho gà; bệnh lao phổi; bệnh do liên cầu lợn ở người; bệnh lỵ A-míp (Amibe); bệnh lỵ trực trùng; bệnh quai bị; bệnh sốt Đăng gơ (Dengue), sốt xuất huyết Đăng gơ (Dengue); bệnh sốt rét; bệnh sốt phát ban; bệnh sởi; bệnh tay-chân-miệng; bệnh than; bệnh thủy đậu; bệnh thương hàn; bệnh uốn ván; bệnh Ru-bê-ôn (Rubeon); bệnh viêm gan vi rút; bệnh viêm màng não do não mô cầu; bệnh viêm não vi rút; bệnh xoắn khuẩn vàng da; bệnh tiêu chảy do vi rút Rô-ta (Rota);

+ Nhóm C gồm các bệnh truyền nhiễm ít nguy hiểm, khả năng lây truyền không nhanh.

Các bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm C bao gồm bệnh do Cờ-la-my-đi-a (Chlamydia); bệnh giang mai; các bệnh do giun; bệnh lậu; bệnh mắt hột; bệnh do nấm Can-đi-đa-an-bi-căng (Candida albicans); bệnh Nô-ca-đi-a (Nocardia); bệnh phong; bệnh do vi rút Xi-tô-mê-ga-lô (Cytomegalo); bệnh do vi rút Héc-péc (Herpes); bệnh sán dây; bệnh sán lá gan; bệnh sán lá phổi; bệnh sán lá ruột; bệnh sốt mò; bệnh sốt do Rích-két-si-a (Rickettsia); bệnh sốt xuất huyết do vi rút Han-ta (Hanta); bệnh do Tờ-ri-cô-mô-nát (Trichomonas); bệnh viêm da mụn mủ truyền nhiễm; bệnh viêm họng, viêm miệng, viêm tim do vi rút Cốc-xác-ki (Coxsakie); bệnh viêm ruột do Giác-đi-a (Giardia); bệnh viêm ruột do Vi-bờ-ri-ô Pa-ra-hê-mô-ly-ti-cút (Vibrio Parahaemolyticus) và các bệnh truyền nhiễm khác.

- Quyết định số 219/QĐ-BYT ngày 29 tháng 01 năm 2020  của Bộ trưởng Bộ Y tế bổ sung bệnh viêm đường hô hấp cấp do nCoV gây ra vào danh mục các bệnh truyền nhiễm nhóm A theo quy định tại Điểm a, Khoản 1 và Khoản 2, Điều 3 của Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm năm 2007. Các hoạt động phòng, chống bệnh viêm đường hô hấp cấp do nCov được thực hiện theo quy định đối với bệnh truyền nhiễm đặc biệt nguy hiểm có khả năng lây truyền rất nhanh, phát tán rộng và tỷ lệ tử vong cao (thuộc nhóm A theo quy định tại Luật phòng chống bệnh truyền nhiễm năm 2007).

Căn cứ các quy định trên, dịch bệnh Covid-19 (bệnh viêm đường hô hấp cấp do nCoV gây ra) là bệnh truyền nhiễm nhóm A, là bệnh truyền nhiễm đặc biệt nguy hiểm có khả năng lây truyền rất nhanh, phát tán rộng và tỷ lệ tử vong cao hoặc chưa rõ tác nhân gây bệnh.

Nguyên tắc phòng, chống bệnh truyền nhiễm

Hỏi: Dịch bệnh Covid-19 đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống bình thường của người dân tại Việt Nam cũng như các nước trên thế giới. Ở nước ta, việc phòng chống dịch bệnh truyền nhiễm tuân theo những nguyên tắc gì?

Trả lời:

Dịch bệnh Covid-19 được xác định là bệnh truyền nhiễm nhóm A và được điều chỉnh theo Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm. Điều 4 của Luật quy định nguyên tắc phòng, chống bệnh truyền nhiễm như sau:

1. Lấy phòng bệnh là chính trong đó thông tin, giáo dục, truyền thông, giám sát bệnh truyền nhiễm là biện pháp chủ yếu. Kết hợp các biện pháp chuyên môn kỹ thuật y tế với các biện pháp xã hội, hành chính trong phòng, chống bệnh truyền nhiễm.

2. Thực hiện việc phối hợp liên ngành và huy động xã hội trong phòng, chống bệnh truyền nhiễm; lồng ghép các hoạt động phòng, chống bệnh truyền nhiễm vào các chương trình phát triển kinh tế - xã hội.

3. Công khai, chính xác, kịp thời thông tin về dịch.

4. Chủ động, tích cực, kịp thời, triệt để trong hoạt động phòng, chống dịch.

Như vậy, hiện nay, việc phòng, chống dịch bệnh Covid-19 ở nước ta đang thực hiện theo những nguyên tắc trên.

Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức trong phòng, chống dịch bệnh truyền nhiễm 

Hỏi: Với sự nguy hiểm của dịch bệnh Covid-19, Đảng và Nhà nước ta đã có những quyết sách và nỗ lực phòng, chống dịch hết sức tích cực, mang lại hiệu quả tốt nhất. Bên cạnh đó, các cơ quan, tổ chức khác có trách nhiệm gì trong phòng, chống dịch bệnh truyền nhiễm?

Trả lời:

Điều 7 Luật phòng, chống bệnh truyền nhiễm năm 2007 quy định trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phòng, chống bệnh truyền nhiễm như sau:

1. Cơ quan, tổ chức, đơn vị vũ trang nhân dân trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn được giao có trách nhiệm xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch về phòng, chống bệnh truyền nhiễm; phối hợp chặt chẽ, hỗ trợ lẫn nhau khi có dịch xảy ra và tuân thủ, chấp hành sự chỉ đạo, điều hành của Ban chỉ đạo chống dịch.

2. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên có trách nhiệm tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia phòng, chống bệnh truyền nhiễm; tham gia giám sát việc thực hiện pháp luật về phòng, chống bệnh truyền nhiễm.

3. Cơ quan, tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài tại Việt Nam có trách nhiệm tham gia phòng, chống bệnh truyền nhiễm theo quy định của Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm.

Như vậy, để góp phần vào công cuộc phòng, chống dịch bệnh Covid-19 có hiệu quả, các tổ chức, cá nhân có trách nhiệm tích cực thực hiện theo sự chỉ đạo, điều hành của Ban chỉ đạo chống dịch cũng như tuân thủ nghiêm các quy định pháp luật phòng, chống bệnh truyền nhiễm.

Những hành vi bị nghiêm cấm trong thực hiện phòng, chống dịch bệnh

Hỏi: Xác định dịch bệnh Covid-19 là bệnh truyền nhiễm nguy hiểm thuộc nhóm A. Pháp luật nghiêm cấm những hành vi gì trong thực hiện phòng, chống dịch bệnh Covid-19?

Trả lời:

Điều 8 Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm năm 2007 quy định nghiêm cấm những hành vi sau đây:

1. Cố ý làm lây lan tác nhân gây bệnh truyền nhiễm.

2. Người mắc bệnh truyền nhiễm, người bị nghi ngờ mắc bệnh truyền nhiễm và người mang mầm bệnh truyền nhiễm làm các công việc dễ lây truyền tác nhân gây bệnh truyền nhiễm theo quy định của pháp luật.

3. Che giấu, không khai báo hoặc khai báo không kịp thời các trường hợp mắc bệnh truyền nhiễm theo quy định của pháp luật.

4. Cố ý khai báo, thông tin sai sự thật về bệnh truyền nhiễm.

5. Phân biệt đối xử và đưa hình ảnh, thông tin tiêu cực về người mắc bệnh truyền nhiễm.

6. Không triển khai hoặc triển khai không kịp thời các biện pháp phòng, chống bệnh truyền nhiễm theo quy định của Luật này.

7. Không chấp hành các biện pháp phòng, chống bệnh truyền nhiễm theo yêu cầu của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.

Như vậy, để thực hiện phòng, chống dịch bệnh Covid-19, cơ quan, tổ chức, cá nhân không được vi phạm các quy định cấm nêu trên.

Nội dung, đối tượng và yêu cầu đối với công tác thông tin, giáo dục, truyền thông về phòng, chống bệnh truyền nhiễm

Hỏi: Anh Sang trú tại phường Tây Lộc, thành phố Huế, hỏi: Trước tình hình dịch bệnh Covid-19, trên các phương tiện truyền thông nói rất nhiều các vấn đề liên quan đến công tác phòng, chống dịch bệnh. Vậy pháp luật có quy định về nội dung, đối tượng và yêu cầu gì đối với công tác thông tin, giáo dục, truyền thông về phòng, chống bệnh truyền nhiễm?

Trả lời:

Điều 9, 10, 11 Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm năm 2007 quy định:

1.  Nội dung thông tin, giáo dục, truyền thông về phòng, chống bệnh truyền nhiễm

-  Đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phòng, chống bệnh truyền nhiễm.

-  Nguyên nhân, đường lây truyền, cách nhận biết bệnh và các biện pháp phòng, chống bệnh truyền nhiễm.

- Hậu quả của bệnh truyền nhiễm đối với sức khoẻ, tính mạng con người và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

- Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phòng, chống bệnh truyền nhiễm.

2. Đối tượng của thông tin, giáo dục, truyền thông về phòng, chống bệnh truyền nhiễm

- Mọi người đều được tiếp cận với thông tin, giáo dục, truyền thông về phòng, chống bệnh truyền nhiễm.

- Người mắc bệnh truyền nhiễm, người bị nghi ngờ mắc bệnh truyền nhiễm, người mang mầm bệnh truyền nhiễm, những người trong gia đình họ và các đối tượng trong vùng có dịch, vùng có nguy cơ dịch được ưu tiên tiếp cận thông tin, giáo dục, truyền thông về phòng, chống bệnh truyền nhiễm.

3. Yêu cầu của thông tin, giáo dục, truyền thông về phòng, chống bệnh truyền nhiễm

- Chính xác, rõ ràng, dễ hiểu, thiết thực, kịp thời.

- Phù hợp với đối tượng, truyền thống văn hoá, dân tộc, đạo đức xã hội, tôn giáo, tín ngưỡng và phong tục tập quán.

Như vậy, công tác thông tin, giáo dục, truyền thông về phòng, chống dịch bệnh Covid-19 phải tuân thủ các quy định như trên.

Cơ quan có trách nhiệm thông tin, giáo dục, truyền thông về phòng, chống bệnh truyền nhiễm

Hỏi: Hiện nay, có nhiều trang thông tin, mạng xã hội của  các tổ chức, cá nhân đưa tin về tình hình dịch bệnh Covid-19, có thông tin chính xác và có cả thông tin chưa được xác thực, thông tin giả,… Vậy những cơ quan nào là cơ quan có trách nhiệm thông tin, giáo dục, truyền thông về phòng, chống bệnh truyền nhiễm được pháp luật quy định?

Trả lời:

Điều 12 Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm năm 2007 quy định trách nhiệm thông tin, giáo dục, truyền thông về phòng, chống bệnh truyền nhiễm như sau:

1. Cơ quan, tổ chức, đơn vị vũ trang nhân dân trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm thông tin, giáo dục, truyền thông về phòng, chống bệnh truyền nhiễm.

2. Bộ Y tế có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan trong việc cung cấp chính xác và kịp thời thông tin về bệnh truyền nhiễm.

3. Bộ Thông tin và Truyền thông có trách nhiệm chỉ đạo các cơ quan thông tin đại chúng thường xuyên thông tin, truyền thông về phòng, chống bệnh truyền nhiễm, lồng ghép chương trình phòng, chống bệnh truyền nhiễm với các chương trình thông tin, truyền thông khác.

4. Bộ Giáo dục và Đào tạo có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với Bộ Y tế, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, các bộ, cơ quan ngang bộ có liên quan xây dựng nội dung giáo dục phòng, chống bệnh truyền nhiễm kết hợp với các nội dung giáo dục khác.

5. Uỷ ban nhân dân các cấp có trách nhiệm chỉ đạo, tổ chức thực hiện công tác thông tin, giáo dục, truyền thông về phòng, chống bệnh truyền nhiễm cho nhân dân địa phương.

6. Các cơ quan thông tin đại chúng có trách nhiệm ưu tiên về thời điểm, thời lượng phát sóng để thông tin, giáo dục, truyền thông về phòng, chống bệnh truyền nhiễm trên đài phát thanh, đài truyền hình; dung lượng và vị trí đăng trên báo in, báo hình, báo điện tử theo quy định của Bộ Thông tin và Truyền thông. Việc thông tin, giáo dục, truyền thông về phòng, chống bệnh truyền nhiễm trên các phương tiện thông tin đại chúng không thu phí, trừ trường hợp thực hiện theo hợp đồng riêng với chương trình, dự án hoặc do tổ chức, cá nhân trong nước, nước ngoài tài trợ.

Trên đây là những cơ quan có trách nhiệm thông tin, giáo dục, truyền thông về phòng, chống bệnh truyền nhiễm Covid-19. Các tổ chức, cá nhân tìm hiểu các vấn đề liên quan đến dịch bệnh Covid-19 qua các kênh thông tin của các cơ quan nêu trên.

Vệ sinh trong việc mai táng thi thể người tử vong do dịch bệnh

Hỏi: Dịch bệnh Covid-19 gây tử vong cho người với tỷ lệ khá lớn. Trường hợp có người tử vong do dịch bệnh thì việc mai táng cho người chết như thế nào?

Trả lời:

Điều 18 Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm năm 2007 quy định vệ sinh trong việc quàn, ướp, mai táng, di chuyển thi thể, hài cốt như sau:

1. Người tử vong phải được tổ chức mai táng chậm nhất là 48 giờ sau khi chết, trừ trường hợp thi thể được bảo quản theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế; đối với người mắc bệnh truyền nhiễm hoặc bị nghi ngờ mắc bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm A tử vong thì thi thể phải được diệt khuẩn và tổ chức mai táng trong thời hạn 24 giờ.

2. Việc bảo quản, quàn, ướp, mai táng, di chuyển thi thể, hài cốt thực hiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế (hiện nay là Thông tư số 02/2009/TT-BYT ngày 26 tháng 5 năm 2009 Bộ Y tế hướng dẫn vệ sinh trong hoạt động mai táng và hỏa táng).

Như vậy, trường hợp có người tử vong vì dịch bệnh Covid-19 thì phải tuân thủ các quy định về việc quàn, ướp, mai táng, di chuyển thi thể, hài cốt  như trên.

Biện pháp bảo đảm vệ sinh phòng, bệnh truyền nhiễm

Hỏi: Để phòng, chống dịch bệnh Covid-19 hiệu quả, các cơ quan, tổ chức, cá nhân phải thực hiện các biện pháp bảo đảm vệ sinh như thế nào?

Trả lời:

Điều 19 Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm năm 2007 quy định các hoạt động khác trong vệ sinh phòng bệnh truyền nhiễm như sau:

1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân phải thực hiện biện pháp bảo đảm về vệ sinh nơi ở, nơi công cộng, nơi sản xuất, kinh doanh, phương tiện giao thông, xử lý chất thải công nghiệp, sinh hoạt và các biện pháp bảo đảm khác về vệ sinh theo quy định của pháp luật có liên quan để không làm phát sinh, lây lan bệnh truyền nhiễm.

2. Mọi người có trách nhiệm thực hiện vệ sinh cá nhân để phòng bệnh truyền nhiễm.

Như vậy, các cơ quan, tổ chức, cá nhân cần thực hiện các biện pháp bảo đảm vệ sinh như trên và các biện pháp cụ thể theo hướng dẫn của Bộ Y tế để phòng, chống dịch bệnh Covid-19 có hiệu quả.

Hoạt động giám sát bệnh truyền nhiễm

Hỏi: Trong cuộc chiến phòng, chống dịch bệnh Covid-19, nhiều cá nhân đã bị cách ly và chịu sự giám sát của cơ quan chức năng. Pháp luật quy định giám sát bệnh truyền nhiễm về những vấn đề gì?

Trả lời:

Điều 20 và 21 Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm năm 2007 quy định hoạt động giám sát bệnh truyền nhiễm, gồm: Giám sát các trường hợp mắc bệnh, bị nghi ngờ mắc bệnh và mang mầm bệnh truyền nhiễm; giám sát tác nhân gây bệnh truyền nhiễm; giám sát trung gian truyền bệnh.

Nội dung giám sát bệnh truyền nhiễm gồm:

-  Giám sát các trường hợp mắc bệnh, bị nghi ngờ mắc bệnh và mang mầm bệnh truyền nhiễm bao gồm thông tin về địa điểm, thời gian, các trường hợp mắc bệnh, tử vong; tình trạng bệnh; tình trạng miễn dịch; đặc điểm chủ yếu về dân số và các thông tin cần thiết khác.

Trong trường hợp cần thiết, cơ quan y tế có thẩm quyền được lấy mẫu xét nghiệm ở người bị nghi ngờ mắc bệnh truyền nhiễm để giám sát.

- Giám sát tác nhân gây bệnh truyền nhiễm bao gồm các thông tin liên quan về chủng loại, đặc tính sinh học và phương thức lây truyền từ nguồn truyền nhiễm.

- Giám sát trung gian truyền bệnh bao gồm các thông tin liên quan đến số lượng, mật độ, thành phần và mức độ nhiễm tác nhân gây bệnh truyền nhiễm của trung gian truyền bệnh.

Như vậy, những cá nhân bị cách ly và chịu sự giám sát của cơ quan y tế về những nội dung như trên để đảm bảo công tác phòng, chống dịch bệnh Covid-19.

Đối tượng phải khai báo y tế để phòng, chống dịch bệnh truyền nhiễm

Hỏi: Chị Hoa có người thân từ nước ngoài về Việt Nam trong đợt dịch Covid-19. Chị đề nghị cho biết, đối tượng nào phải khai báo y tế để phòng, chống dịch bệnh truyền nhiễm?

Trả lời:

 Theo quy định tại Điều 3 và Điều 4 Nghị định số 89/2018/NĐ-CP ngày 25 tháng 6 năm 2018 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật phòng, chống bệnh truyền nhiễm về kiểm dịch y tế biên giới, nêu rõ:

Người nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh Việt Nam phải khai báo y tế.

Bộ trưởng Bộ Y tế quyết định việc khai báo y tế.

Khai báo y tế được áp dụng đối với một trong các trường hợp sau:

- Có quyết định công bố hoặc thông báo dịch bệnh truyền nhiễm của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;

- Căn cứ tình hình dịch bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm A, các bệnh mới nổi, các bệnh bùng phát hoặc cảnh báo nguy cơ xâm nhập dịch bệnh của cơ quan y tế có thẩm quyền từ các quốc gia, quốc tế.

Theo quy định trên, để phòng, chống dịch bệnh Covid-19, các cá nhân phải khai báo y tế.

Chấm dứt áp dụng việc khai báo y tế

Hỏi: Anh Phong có người thân đang ở nước ngoài và dự định về Việt Nam trong thời gian tới. Anh đề nghị cho biết, trước tình hình dịch bệnh Covid-19, khi nào mới chấm dứt áp dụng việc khai báo y tế?

Trả lời:

Khoản 3 Điều 4 Nghị định số 89/2018/NĐ-CP ngày 25 tháng 6 năm 2018 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật phòng, chống bệnh truyền nhiễm, quy định chấm dứt áp dụng việc khai báo y tế đối với một trong các trường hợp sau:

- Có quyết định công bố hoặc thông báo hết dịch bệnh truyền nhiễm của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;

- Căn cứ tình hình dịch bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm A, hoặc thông báo hết cảnh báo dịch bệnh của cơ quan y tế có thẩm quyền từ các quốc gia, vùng lãnh thổ, tổ chức quốc tế.

Như vậy, việc chấm dứt khai báo y tế để phòng, chống dịch bệnh Covid-19 sẽ được thực hiện khi có một trong các căn cứ trên.

Thực hiện khai báo y tế trong phòng, chống bệnh truyền nhiễm

Hỏi: Anh Hoàng đề nghị cho biết, pháp luật quy định về thực hiện khai báo y tế như thế nào?

Trả lời:

Điều 6 Nghị định số 89/2018/NĐ-CP ngày 25 tháng 6 năm 2018 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật phòng, chống bệnh truyền nhiễm, quy định thực hiện khai báo y tế như sau:

1. Đối với người phải khai báo y tế:

a) Nhận tờ khai y tế (theo mẫu) trên tàu bay, tàu thuyền, đại lý hàng hải, công ty du lịch hoặc nhân viên hướng dẫn du lịch ở trong nước và nước ngoài, tại khu vực dành cho khai báo y tế ở các cửa khẩu Việt Nam hoặc tại các cửa khẩu nước xuất cảnh hoặc lấy mẫu tờ khai y tế điện tử được cơ quan có thẩm quyền cung cấp;

b) Thực hiện việc khai báo y tế theo các nội dung trong tờ khai y tế khi đến cửa khẩu Việt Nam làm thủ tục nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh hoặc trước đó nhưng không sớm hơn 07 ngày kể từ thời điểm nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh;

c) Nộp tờ khai y tế bằng giấy hoặc bằng phương thức điện tử cho kiểm dịch viên y tế tại cửa khẩu. Tờ khai y tế chỉ có giá trị cho một lần nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh và được tổ chức kiểm dịch y tế biên giới lưu trữ trong thời gian 03 tháng kể từ thời điểm nhận tờ khai y tế.

2. Ngôn ngữ trong khai báo y tế: được sử dụng dưới dạng song ngữ tiếng Việt và tiếng Anh, tùy theo tình hình dịch bệnh trên thế giới có thể sử dụng thêm các ngôn ngữ khác theo hướng dẫn của Bộ Y tế.

3. Tổ chức kiểm dịch y tế biên giới có trách nhiệm in, quản lý, hướng dẫn và phát hành miễn phí tờ khai y tế, tổ chức khai báo y tế theo hình thức điện tử.

Như vậy, việc khai báo y tế để phòng, chống dịch bệnh Covid-19 thực hiện theo quy định trên.

Kiểm tra giấy tờ trong phòng, chống bệnh truyền nhiễm

Hỏi: Để phòng, chống bệnh truyền nhiễm, đối tượng nào bị kiểm tra giấy tờ và kiểm tra loại giấy tờ gì?

Trả lời:

Khoản 1 và 2 Điều 9 Nghị định số 89/2018/NĐ-CP ngày 25 tháng 6 năm 2018 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật phòng, chống bệnh truyền nhiễm, quy định như sau:

1. Đối tượng kiểm tra:

a) Người phải khai báo y tế. 

b) Người xuất phát từ hoặc đi đến quốc gia, vùng lãnh thổ mà quốc gia, vùng lãnh thổ đó quy định bắt buộc phải tiêm chủng hoặc áp dụng biện pháp dự phòng trước khi xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh.

2. Loại giấy tờ kiểm tra:

a) Tờ khai y tế trong trường hợp phải khai báo y tế;

b) Giấy chứng nhận tiêm chủng quốc tế hoặc áp dụng biện pháp dự phòng (nếu có) khi có yêu cầu của Bộ Y tế hoặc cơ quan y tế có thẩm quyền của quốc gia, vùng lãnh thổ đi hoặc đến.

Như vậy, khi thuộc các trường hợp trên thì cơ quan chức năng kiểm tra các loai giấy tờ theo quy định.

Xử lý kết quả kiểm tra giấy tờ trong phòng, chống bệnh truyền nhiễm

Hỏi: Pháp luật quy định kết quả kiểm tra giấy tờ sẽ được xử lý như thế nào?

Trả lời:

Khoản 3 Điều 9 Nghị định số 89/2018/NĐ-CP ngày 25 tháng 6 năm 2018 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật phòng, chống bệnh truyền nhiễm, quy định xử lý kết quả kiểm tra giấy tờ như sau:

- Trường hợp người phải khai báo y tế qua kiểm tra không có nghi ngờ mắc bệnh hoặc mang tác nhân gây bệnh truyền nhiễm, kiểm dịch viên y tế xác nhận ngay vào tờ khai y tế, kết thúc quy trình kiểm dịch. Trường hợp nghi ngờ mắc bệnh hoặc mang tác nhân gây bệnh truyền nhiễm, kiểm dịch viên y tế tiến hành kiểm tra thực tế theo quy định.

- Trường hợp người bị kiểm tra là người xuất phát từ hoặc đi đến quốc gia, vùng lãnh thổ mà quốc gia, vùng lãnh thổ đó quy định bắt buộc phải tiêm chủng hoặc áp dụng biện pháp dự phòng trước khi xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh, có giấy chứng nhận tiêm chủng quốc tế hoặc áp dụng biện pháp dự phòng đối với bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm A còn hiệu lực thì kiểm dịch viên y tế kết thúc quy trình kiểm dịch, trường hợp không có hoặc có giấy chứng nhận tiêm chủng quốc tế hoặc áp dụng biện pháp dự phòng đối với bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm A hết hiệu lực thì kiểm dịch viên y tế tiến hành xử lý y tế theo quy định.

 Như vậy, sau khi có kết quả kiểm tra giấy tờ, căn cứ kết quả kiểm tra, cơ quan chức năng tiến hành các bước tiếp theo theo quy định trên nhằm bảo đảm cho công tác phòng, chống dịch bệnh truyền nhiễm.

Trường hợp áp dụng biện pháp kiểm tra thực tế đối với người trong phòng, chống bệnh truyền nhiễm

Hỏi: Để phòng, chống dịch bệnh Covid-19, thời gian qua một số trường hợp được lấy mẫu xét nghiệm. Pháp luật quy định trường hợp nào áp dụng biện pháp kiểm tra thực tế đối với người?

Trả lời:

Điều 10 Nghị định số 89/2018/NĐ-CP ngày 25 tháng 6 năm 2018 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật phòng, chống bệnh truyền nhiễm, quy định kiểm tra thực tế đối với người như sau:

1. Đối tượng kiểm tra:

Người bị nghi ngờ mắc bệnh hoặc mang tác nhân gây bệnh truyền nhiễm, gồm:

- Người có biểu hiện bất thường liên quan đến sức khỏe hoặc tăng thân nhiệt trong quá trình giám sát.

- Người đi cùng, tiếp xúc trực tiếp hoặc tiếp xúc gần (ngồi sát bên cùng hàng ghế hoặc trước, sau một hàng ghế trên cùng chuyến xe, toa tầu, máy bay, tầu thuyền) với người có biểu hiện bất thường liên quan đến sức khỏe hoặc tăng thân nhiệt trong quá trình giám sát.

- Trường hợp người  phải khai báo y tế  qua kiểm tra nghi ngờ mắc bệnh hoặc mang tác nhân gây bệnh truyền nhiễm.

2. Nội dung kiểm tra:

Căn cứ tình hình thực tế của người bị kiểm tra, kiểm dịch viên y tế thực hiện một trong các hoạt động sau:

- Phỏng vấn, khai thác tiền sử;

- Khám lâm sàng;

- Đánh giá hiệu quả các biện pháp xử lý y tế đã áp dụng;

- Lấy mẫu xét nghiệm trường hợp nghi ngờ mắc bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm A, các bệnh mới nổi, các bệnh bùng phát khi có thông báo của Bộ Y tế.

3. Xử lý kết quả kiểm tra:

a) Sau khi kiểm tra thực tế nếu người bị kiểm tra có dấu hiệu mang mầm bệnh hoặc mang tác nhân gây bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm A thì kiểm dịch viên y tế thực hiện việc xử lý y tế;

b) Trường hợp người bị kiểm tra không thuộc trường hợp nêu trên, kiểm dịch viên y tế xác nhận ngay vào tờ khai y tế, kết thúc quy trình kiểm dịch y tế. Lực lượng kiểm tra, kiểm soát xuất cảnh, nhập cảnh tại cửa khẩu kiểm tra việc xác nhận của kiểm dịch viên y tế trong tờ khai y tế khi có thông báo việc áp dụng khai báo y tế của Bộ Y tế. Trường hợp người thuộc đối tượng phải khai báo y tế theo quy định tại Nghị định này mà không có xác nhận của kiểm dịch viên y tế, lực lượng kiểm tra, kiểm soát xuất, nhập cảnh yêu cầu người đó phải hoàn thành xong việc khai báo y tế trước khi làm thủ tục nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh Việt Nam.

4. Thời gian hoàn thành việc kiểm tra thực tế đối với một người không quá 02 giờ (không bao gồm thời gian chờ kết quả xét nghiệm).

Như vậy, pháp luật quy định việc kiểm tra thực tế đối với người để phòng, chống bệnh truyền nhiễm, trong đó có biện pháp lấy mẫu xét nghiệm trường hợp nghi ngờ mắc bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm A.

Xử lý y tế đối với trường hợp có dấu hiệu mắc bệnh Covid-19

Hỏi: Những trường hợp có dấu hiệu mắc bệnh Covid-19 sẽ được xử lý y tế như thế nào?

Trả lời:

Điều 11 Nghị định số 89/2018/NĐ-CP ngày 25 tháng 6 năm 2018 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật phòng, chống bệnh truyền nhiễm, quy định xử lý y tế đối với người như sau:

1. Đối tượng xử lý y tế:

a) Có dấu hiệu mắc bệnh hoặc mang tác nhân gây bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm A;

b) Đối tượng không có giấy chứng nhận tiêm chủng quốc tế hoặc áp dụng biện pháp dự phòng đối với người xuất phát từ hoặc đi đến quốc gia, vùng lãnh thổ có dịch bệnh thuộc nhóm A mà bệnh đó bắt buộc phải tiêm chủng hoặc áp dụng biện pháp dự phòng;

c) Đối tượng có giấy chứng nhận tiêm chủng quốc tế hoặc áp dụng biện pháp dự phòng đã hết hiệu lực đối với người xuất phát từ hoặc đi đến quốc gia, vùng lãnh thổ có dịch bệnh thuộc nhóm A mà bệnh đó bắt buộc phải tiêm chủng hoặc áp dụng biện pháp dự phòng;

d) Người tiếp xúc với người nhập cảnh có dấu hiệu mắc bệnh hoặc mang tác nhân gây bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm A.

2. Đối với đối tượng có dấu hiệu mắc bệnh hoặc mang tác nhân gây bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm A, kiểm dịch viên y tế áp dụng một hoặc nhiều biện pháp sau:

a) Áp dụng các biện pháp dự phòng lây truyền bệnh;

b) Chuyển đến khu vực cách ly y tế tại cửa khẩu. Việc áp dụng biện pháp cách ly y tế tại cửa khẩu thực hiện theo quy định của pháp luật về áp dụng biện pháp cách ly y tế, cưỡng chế cách ly y tế và chống dịch đặc thù trong thời gian có dịch;

c) Khám và điều trị ban đầu;

d) Sử dụng vắc xin, sinh phẩm y tế, khử khuẩn;

đ) Chuyển về cơ sở phòng, chống bệnh truyền nhiễm để dự phòng và điều trị theo quy định.

3. Đối tượng quy định tại điểm b, c khoản 1 nêu trên, kiểm dịch viên y tế áp dụng một hoặc nhiều biện pháp quy định tại điểm a, d khoản 2 nêu trên. Sau khi hoàn thành, tổ chức kiểm dịch y tế cấp ngay giấy chứng nhận tiêm chủng quốc tế hoặc áp dụng biện pháp dự phòng. Chỉ áp dụng biện pháp tiêm chủng đối với bệnh có vắc xin và đối tượng đủ điều kiện tiêm chủng.

4. Đối tượng quy định tại điểm d khoản 1 nêu trên, kiểm dịch viên y tế lập danh sách đầy đủ các thông tin về họ tên, điện thoại, địa chỉ liên lạc để báo cáo cơ quan có thẩm quyền theo quy định, đồng thời áp dụng một hoặc nhiều biện pháp sau:

a) Áp dụng các biện pháp dự phòng;

b) Tuyên truyền, tư vấn phòng chống dịch bệnh;

c) Lập phương án theo dõi người tiếp xúc.

5. Sau khi hoàn thành việc xử lý y tế, kiểm dịch viên y tế xác nhận vào tờ khai y tế, kết thúc quy trình kiểm dịch và thông báo cho cơ quan phụ trách cửa khẩu để làm thủ tục nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh cho người bị xử lý y tế.

6. Đối với người chưa xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh nhưng có yêu cầu cấp mới, cấp lại Giấy chứng nhận tiêm chủng quốc tế hoặc áp dụng biện pháp dự phòng để xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh thì người đó phải làm đơn theo Mẫu số 15 Phụ lục kèm theo Nghị định này và chứng minh việc sử dụng vắc xin, biện pháp dự phòng đã áp dụng trước đó còn hiệu lực với tổ chức kiểm dịch y tế biên giới.

Theo quy định trên, người có biểu hiện mắc bệnh Covid-19, kiểm dịch viên y tế áp dụng một hoặc nhiều biện pháp sau: Áp dụng các biện pháp dự phòng lây truyền bệnh; chuyển đến khu vực cách ly y tế tại cửa khẩu; chuyển về cơ sở phòng, chống bệnh truyền nhiễm để dự phòng và điều trị theo quy định.

Khai báo y tế đối với phương tiện vận tải

Hỏi: Trong công tác phòng, chống dịch bệnh Covid-19, các phương tiện vận tải có phải khai báo y tế không và khai báo như thế nào?

Trả lời:

Điều 12 Nghị định số 89/2018/NĐ-CP ngày 25 tháng 6 năm 2018 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật phòng, chống bệnh truyền nhiễm, quy định đối tượng phải khai báo y tế là phương tiện vận tải:

Tất cả phương tiện vận tải khi nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh phải thực hiện khai báo y tế, trừ tàu bay, tàu thuyền đã làm thủ tục kiểm dịch y tế khi nhập cảnh ở cảng đầu tiên sau đó chuyển đến các cảng nội địa khác.

Điều 13 Nghị định số 89/2018/NĐ-CP ngày 25 tháng 6 năm 2018 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật phòng, chống bệnh truyền nhiễm, quy định như sau:

1. Khai báo y tế đối với tàu bay:

a) Người khai báo y tế thực hiện khai, nộp tờ khai chung hàng không và giấy chứng nhận kiểm tra/xử lý y tế hàng hóa, phương tiện vận tải đường bộ, đường sắt, đường hàng không (nếu có) cho tổ chức kiểm dịch y tế biên giới hoặc qua Cổng thông tin một cửa quốc gia trước khi phương tiện vận tải được phép nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh;

b) Trong trường hợp hành khách hoặc phi hành đoàn trên chuyến bay có triệu chứng hoặc có dấu hiệu mắc bệnh truyền nhiễm, cơ trưởng hoặc tiếp viên trưởng phải liên lạc ngay với tổ chức kiểm dịch y tế biên giới tại cửa khẩu trước khi tàu bay cất, hạ cánh.

2. Đối với tàu thuyền:

a) Người khai báo y tế thực hiện khai, nộp giấy khai báo y tế hàng hải, giấy chứng nhận miễn xử lý vệ sinh tàu thuyền/chứng nhận xử lý vệ sinh tàu thuyền (nếu có), giấy chứng nhận kiểm tra y tế hàng hóa (trên tàu thuyền), tàu thuyền (nếu có) và bản khai chung về quản lý hoạt động hàng hải cho tổ chức kiểm dịch y tế biên giới hoặc thông qua Cổng thông tin một cửa quốc gia trước 12 giờ kể từ khi tàu thuyền dự kiến nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh;

b) Trường hợp hành khách hoặc thuyền viên trên tàu thuyền có triệu chứng hoặc có dấu hiệu mắc bệnh truyền nhiễm, thuyền trưởng hoặc sĩ quan được ủy quyền trên tàu thuyền phải liên lạc ngay với tổ chức kiểm dịch y tế biên giới tại cửa khẩu trước khi tàu thuyền cập cảng; treo tín hiệu kiểm dịch y tế theo quy định.

3. Đối với phương tiện vận tải đường bộ, đường sắt:

Thực hiện khai, nộp giấy khai báo y tế hàng hóa, phương tiện vận tải và giấy chứng nhận kiểm tra/xử lý y tế hàng hóa, phương tiện vận tải đường bộ, đường sắt, đường hàng không theo (nếu có) trước khi phương tiện qua cửa khẩu.

Như vậy, để phòng, chống dịch bệnh Covid-19, các phương tiện vận tải phải khai báo y tế khi nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh phải thực hiện khai báo y tế như trên.

Xử lý y tế đối với phương tiện vận tải có dấu hiệu mang mầm bệnh truyền nhiễm

Hỏi: Trường hợp kiểm tra thực tế đối với phương tiện vận tải có dấu hiệu mang mầm bệnh truyền nhiễm Covid-19 thì xử lý y tế như thế nào?

Trả lời:

Điều 18 Nghị định số 89/2018/NĐ-CP ngày 25 tháng 6 năm 2018 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật phòng, chống bệnh truyền nhiễm, quy định như sau:

Sau khi kiểm tra thực tế, nếu phương tiện vận tải bị kiểm tra mang hoặc có dấu hiệu mang mầm bệnh truyền nhiễm, trung gian truyền bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm A, kiểm dịch viên y tế lập biên bản kiểm tra vệ sinh tàu bay hoặc tàu thuyền và chuyển sang xử lý y tế.

Căn cứ kết quả kiểm tra thực tế, kiểm dịch viên y tế có thể áp dụng một hoặc các biện pháp sau:

- Diệt tác nhân gây bệnh, trung gian truyền bệnh;

- Thực hiện hoặc phối hợp với các cơ quan liên quan triển khai việc thu gom, xử lý chất thải có khả năng mang tác nhân gây bệnh hoặc có nguy cơ gây bệnh truyền nhiễm;

- Khử trùng.

Áp dụng các biện pháp xử lý y tế đối với người trên phương tiện vận tải theo quy định.

Áp dụng các biện pháp xử lý y tế đối với hàng hóa trên phương tiện vận tải theo quy định.

Sau khi hoàn thành việc xử lý y tế, kiểm dịch viên y tế cấp giấy chứng nhận kiểm tra/xử lý y tế hàng hóa, phương tiện vận tải đường bộ, đường sắt, đường hàng không hoặc giấy chứng nhận miễn xử lý vệ sinh tàu thuyền/chứng nhận xử lý vệ sinh tàu thuyền, kết thúc quy trình kiểm dịch.

Thời gian cấp giấy chứng nhận không quá 30 phút sau khi hoàn thành việc xử lý y tế.

Thời gian hoàn thành các biện pháp xử lý y tế không quá 01 giờ đối với một phương tiện vận tải đường bộ hoặc một toa tàu hỏa, một tàu bay; không quá 06 giờ đối với cả đoàn tàu hỏa hoặc một tàu thuyền kể từ thời điểm phát hiện ra phương tiện vận tải thuộc diện phải xử lý y tế. Không quá 24 giờ đối với tàu thuyền trong trường hợp phải xử lý y tế bằng hình thức bẫy chuột, đặt mồi, xông hơi diệt chuột. Trước khi hết thời gian quy định 15 phút mà vẫn chưa hoàn thành việc xử lý y tế, tổ chức kiểm dịch y tế biên giới phải thông báo việc gia hạn thời gian xử lý y tế bằng văn bản và nêu rõ lý do cho người khai báo y tế. Thời gian gia hạn không quá 01 giờ đối với một phương tiện vận tải đường bộ hoặc một toa tàu hỏa hoặc một tàu bay; không quá 04 giờ đối với cả đoàn tàu hỏa hoặc một tàu thuyền kể từ thời điểm có thông báo gia hạn.

Trường hợp tổ chức kiểm dịch y tế biên giới được yêu cầu kiểm tra, xử lý y tế phương tiện vận tải để cấp giấy chứng nhận kiểm tra/xử lý y tế hàng hóa, phương tiện vận tải đường bộ, đường sắt, đường hàng không hoặc giấy chứng nhận miễn xử lý vệ sinh tàu thuyền/chứng nhận vệ sinh tàu thuyền, người khai báo y tế phải làm đơn đề nghị; việc kiểm tra, xử lý y tế thực hiện theo quy định.

Như vậy, các phương tiện vận tải bị kiểm tra thực tế mang hoặc có dấu hiệu mang mầm bệnh truyền nhiễm, trung gian truyền bệnh truyền nhiễm Covid-19 thì chuyển sang xử lý y tế như trên.

Khai báo y tế đối với hàng hóa nhập khẩu

Hỏi: Để phòng, chống dịch bệnh Covid-19, hàng hóa nhập khẩu có phải khai báo y tế không? Nếu có thì khai báo như thế nào?

Trả lời:

Điều 20 và 21 Nghị định số 89/2018/NĐ-CP ngày 25 tháng 6 năm 2018 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật phòng, chống bệnh truyền nhiễm, quy định như sau:

Hàng hóa nhập khẩu, xuất khẩu, quá cảnh phải được khai báo y tế, trừ trường hợp hàng hóa quá cảnh mà không bốc dỡ khỏi phương tiện, hàng hóa thuộc diện kiểm dịch động vật, sản phẩm động vật trên cạn và động vật, sản phẩm động vật thủy sản theo quy định của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

Đối với hàng hóa vận tải bằng đường bộ, đường sắt, đường hàng không: Người khai báo y tế khai, nộp giấy khai báo y tế hàng hóa, giấy chứng nhận kiểm tra/xử lý y tế hàng hóa, phương tiện vận tải đường bộ, đường sắt, đường hàng không (nếu có) cho tổ chức kiểm dịch y tế biên giới hoặc qua Cổng thông tin một cửa quốc gia trước khi hàng hóa được phép nhập khẩu, xuất khẩu, quá cảnh.

Đối với hàng hóa vận tải bằng đường thủy: Người khai báo y tế thực hiện khai, nộp bản sao bản khai hàng hóa và giấy chứng nhận kiểm tra y tế hàng hóa (trên tàu thuyền), tàu thuyền (nếu có) cho tổ chức kiểm dịch y tế biên giới hoặc qua Cổng thông tin một cửa quốc gia trước 12 giờ kể từ khi hàng hóa dự kiến nhập khẩu, xuất khẩu, quá cảnh.

Như vậy, để bảo đảm công tác phòng, chống bệnh truyền nhiễm đạt kết quả tốt, pháp luật quy định Hàng hóa nhập khẩu, xuất khẩu, quá cảnh phải được khai báo y tế và việc khai báo thực hiện như trên.

Tường hợp phải kiểm tra y tế đối với hàng hóa

Hỏi: Chị Hoa có nhập khẩu lô hàng từ nước ngoài vào Việt Nam. Tuy nhiên, thời gian làm thủ tục để nhập khẩu lâu hơn so với bình thường. Chị có hỏi thì được biết do lô hàng nhập khẩu của chị vận chuyển qua quốc gia có ghi nhận trường hợp bệnh truyền nhiễm Covid-19 nên phải thực hiện kiểm tra y tế. Chị Hoa đề nghị cho biết, trường hợp nào thì phải kiểm tra y tế đối với hàng hóa?

Trả lời:

Khoản 1 Điều 23 Nghị định số 89/2018/NĐ-CP ngày 25 tháng 6 năm 2018 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật phòng, chống bệnh truyền nhiễm, quy định Kiểm dịch viên y tế thực hiện kiểm tra y tế theo quy định đối với các hàng hóa có yếu tố nguy cơ bao gồm:

- Hàng hóa vận chuyển qua quốc gia, vùng lãnh thổ có ghi nhận trường hợp bệnh truyền nhiễm mà Bộ Y tế có yêu cầu phải giám sát;

- Hàng hóa mang hoặc có dấu hiệu mang mầm bệnh, trung gian truyền bệnh truyền nhiễm;

- Hàng hóa vận chuyển bằng phương tiện có yếu tố nguy cơ: Phương tiện vận tải đi qua quốc gia, vùng lãnh thổ có ghi nhận trường hợp bệnh truyền nhiễm mà Bộ Y tế có yêu cầu phải giám sát; phương tiện vận tải chở người bệnh hoặc người nghi ngờ mắc bệnh hoặc mang tác nhân gây bệnh truyền nhiễm; phương tiện vận tải chở hàng hóa mang tác nhân gây bệnh truyền nhiễm hoặc nghi ngờ mang tác nhân gây bệnh truyền nhiễm.

- Hàng hóa có thông báo của cơ quan có thẩm quyền về nguy cơ lây lan dịch bệnh truyền nhiễm.

Theo quy định trên, hàng hóa của chị Hoa thuộc trường hợp được vận chuyển qua quốc gia, vùng lãnh thổ có ghi nhận trường hợp bệnh truyền nhiễm mà Bộ Y tế có yêu cầu phải giám sát nên phải thực hiện kiểm tra y tế theo quy định.

Thời gian hoàn thành việc giám sát hàng hóa

Hỏi: Ông Bình nhập khẩu hàng hóa vào Việt Nam và nhận được thông tin lô hàng của ông đang được thực hiện giám sát trong thời gian chờ nhập cảnh. Ông đề nghị cho biết, lô hàng của ông được giám sát nghĩa là không bị áp dụng các biện pháp xử lý y tế? Thời gian hoàn thành việc giám sát hàng hóa là bao lâu?

Trả lời:

Khoản 2, 4, 5, 6 Điều 23, khoản 1 Điều 24 và khoản 1 Điều 25 Nghị định số 89/2018/NĐ-CP ngày 25 tháng 6 năm 2018 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật phòng, chống bệnh truyền nhiễm, quy định:

Trường hợp hàng hóa không có yếu tố nguy cơ theo quy định, kiểm dịch viên y tế thực hiện giám sát hàng hóa trong thời gian chờ nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh gồm các nội dung sau:

- Đối chiếu giấy khai báo y tế đối với hàng hóa, trừ trường hợp hàng hóa quá cảnh mà không bốc dỡ khỏi phương tiện;

- Giám sát tác nhân gây bệnh truyền nhiễm, trung gian gây bệnh truyền nhiễm xâm nhập vào hàng hóa.

Trong quá trình giám sát, nếu phát hiện hàng hóa có trung gian truyền bệnh truyền nhiễm, tác nhân gây bệnh truyền nhiễm hoặc không bảo đảm điều kiện vệ sinh chung (bao gồm phát hiện chất thải, chất tiết, dấu vết của trung gian truyền bệnh; hàng hóa có tình trạng nấm, mốc, mùi hôi thối), kiểm dịch viên y tế thu thập thêm thông tin về các biện pháp xử lý y tế đã áp dụng, cần hỗ trợ, đề xuất biện pháp kiểm tra y tế vào Giấy khai báo y tế đối với hàng hóa.

Trường hợp hàng hóa không có trung gian truyền bệnh truyền nhiễm, tác nhân gây bệnh truyền nhiễm hoặc không bảo đảm điều kiện vệ sinh chung, kiểm dịch viên y tế xác nhận kết quả kiểm dịch y tế và kết thúc quy trình kiểm dịch.

Thời gian hoàn thành việc giám sát đối với hàng hóa không quá 01 giờ đối với lô hàng hóa dưới 10 tấn, không quá 03 giờ đối với lô hàng hóa từ 10 tấn trở lên.

Trong quá trình giám sát, nếu phát hiện hàng hóa có trung gian truyền bệnh truyền nhiễm, tác nhân gây bệnh truyền nhiễm hoặc không bảo đảm điều kiện vệ sinh chung thì áp dụng biện pháp kiểm tra giấy tờ đối với hàng hóa và kiểm tra thực tế đối với hàng hóa. Thời gian hoàn thành việc giám sát đối với hàng hóa không quá 01 giờ đối với lô hàng hóa dưới 10 tấn, không quá 03 giờ đối với lô hàng hóa từ 10 tấn trở lên.

Như vậy, mặc dù hàng hóa không thuộc trường hợp phải kiểm tra y tế theo quy định và được giám sát, nhưng trong quá trình giám sát nếu phát hiện hàng hóa có trung gian truyền bệnh truyền nhiễm, tác nhân gây bệnh truyền nhiễm hoặc không bảo đảm điều kiện vệ sinh chung thì áp dụng biện pháp kiểm tra giấy tờ đối với hàng hóa và kiểm tra thực tế đối với hàng hóa.

Kiểm tra thực tế hàng hóa trong phòng, chống bệnh truyền nhiễm

Hỏi: Ông Phong cho biết, lô hàng nhập khẩu từ nước ngoài vào Việt Nam của ông thuộc diện kiểm tra thực tế hàng hóa. Ông đề nghị cho biết, nội dung kiểm tra thực tế là gì và trường hợp lô hàng có mang mầm bệnh truyền nhiễm thì bị xử lý như thế nào?

Trả lời:

Khoản 2, 3 Điều 25 và khoản 1, 2 Điều 26 Nghị định số 89/2018/NĐ-CP ngày 25 tháng 6 năm 2018 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật phòng, chống bệnh truyền nhiễm, quy định:

1. Nội dung kiểm tra: Kiểm dịch viên y tế yêu cầu đưa hàng hóa vào khu vực kiểm tra y tế, thực hiện kiểm tra các nội dung sau:

a) Nội dung khai báo với thực tế hàng hóa;

b) Tình trạng vệ sinh chung;

c) Trung gian truyền bệnh truyền nhiễm;

d) Quy định về dụng cụ, bao gói chứa đựng, thông tin ghi trên nhãn; điều kiện vận chuyển;

đ) Đánh giá hiệu quả các biện pháp xử lý y tế đã áp dụng;

e) Lấy mẫu xét nghiệm đối với hàng hóa thuộc đối tượng kiểm tra thực tế.

2 Xử lý kết quả kiểm tra:

a) Sau khi kiểm tra, nếu hàng hóa bị kiểm tra mang hoặc có dấu hiệu mang mầm bệnh truyền nhiễm nhóm A hoặc trung gian truyền bệnh truyền nhiễm nhóm A, kiểm dịch viên y tế thực hiện việc xử lý y tế;

b) Trường hợp hàng hóa không thuộc trường hợp trên thì kiểm dịch viên y tế cấp giấy chứng nhận đã kiểm tra y tế, kết thúc quy trình kiểm dịch.

3. Các biện pháp xử lý y tế: Căn cứ kết quả kiểm tra thực tế, kiểm dịch viên y tế có thể áp dụng một hoặc các biện pháp sau:

a) Khử trùng, diệt tác nhân gây bệnh, trung gian truyền bệnh truyền nhiễm;

b) Buộc tiêu hủy hoặc tái xuất đối với hàng hóa không thể diệt được tác nhân gây bệnh, trung gian truyền bệnh truyền nhiễm.

Căn cứ các quy định trên, Kiểm dịch viên y tế thực hiện kiểm tra thực tế hàng hóa với các nội dung như trên. Sau khi kiểm tra, nếu hàng hóa bị kiểm tra mang hoặc có dấu hiệu mang mầm bệnh truyền nhiễm nhóm A hoặc trung gian truyền bệnh truyền nhiễm nhóm A, kiểm dịch viên y tế thực hiện việc xử lý y tế với một hoặc các biện pháp: Khử trùng, diệt tác nhân gây bệnh, trung gian truyền bệnh truyền nhiễm; buộc tiêu hủy hoặc tái xuất đối với hàng hóa không thể diệt được tác nhân gây bệnh, trung gian truyền bệnh truyền nhiễm.

Xử lý hành chính đối với hành vi không khai báo khi phát hiện người mắc bệnh truyền nhiễm Covid-19

Hỏi: Hiện nay, một số người cố ý không khai báo khi phát hiện bản thân và người nhà mắc bệnh dịch Covid-19, gây nguy cơ lây lan dịch bệnh. Pháp luật quy định xử lý hành chính đối với hành vi này như thế nào?

Trả lời:

Điều 6 Nghị định số 176/2013/NĐ-CP ngày 14 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế quy định hành vi vi phạm quy định về giám sát bệnh truyền nhiễm bị xử phạt như sau:

1. Cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 200.000 đồng đến 500.000 đồng đối với hành vi không khai báo khi phát hiện người mắc bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm A.

2. Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:

a) Che giấu hiện trạng bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm A của bản thân hoặc của người khác mắc bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm A;

b) Không thực hiện việc xét nghiệm phát hiện bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm A theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Như vậy, hành vi che giấu, không khai báo khi mắc bệnh Covid-19 bị xử phạt vi phạm hành chính với mức phạt như trên.

Xử lý hình sự đối với hành vi giấu bệnh, không khai báo kịp thời khi mắc bệnh Covid-19

Hỏi: Một số người có hành vi giấu bệnh, không khai báo kịp thời khi mắc bệnh Covid-19 có bị xử lý hình sự không?

Trả lời:

 Hành vi che giấu, không khai báo hoặc khai báo không kịp thời các trường hợp mắc bệnh truyền nhiễm nếu làm lây lan dịch bệnh cho người khác ở mức độ phải chịu trách nhiệm hình sự thì người thực hiện hành vi đó sẽ bị phạt theo Điều 240 Bộ luật Hinh sự năm 2015 (Tội làm lây lan dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm cho người), cụ thể như sau:

(1) Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, làm lây lan dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm cho người, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Đưa ra hoặc cho phép đưa ra khỏi vùng có dịch bệnh động vật, thực vật, sản phẩm động vật, thực vật hoặc vật phẩm khác có khả năng lây truyền dịch bệnh nguy hiểm cho người, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác;

b) Đưa vào hoặc cho phép đưa vào lãnh thổ Việt Nam động vật, thực vật hoặc sản phẩm động vật, thực vật bị nhiễm bệnh hoặc mang mầm bệnh nguy hiểm có khả năng lây truyền cho người;

c) Hành vi khác làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho người.

 (2) Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

 

a) Dẫn đến phải công bố dịch thuộc thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh hoặc Bộ trưởng Bộ Y tế;

b) Làm chết người.

(3) Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 12 năm:

a) Dẫn đến phải công bố dịch thuộc thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ;

b) Làm chết 02 người trở lên.

(4) Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Như vậy, hành vi che giấu, không khai báo hoặc khai báo không kịp thời khi mắc bệnh Covid-19 nếu làm lây lan dịch bệnh cho người khác ở mức độ phải chịu trách nhiệm hình sự thì sẽ bị xử lý như trên.

Xử phạt hành chính hành vi tung thông tin giả, sai sự thật về dịch bệnh Covid-19

Hỏi: Trên các mạng xã hội có không ít người có hành vi tung thông tin giả, sai sự thật với nhiều mục đích khác nhau. Những hành vi này bị xử phạt hành chính như thế nào?

Trả lời:

Điều 8 Luật An ninh mạng nghiêm cấm hành vi đưa thông tin sai sự thật gây hoang mang trong nhân dân.

Theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 64 Nghị định số 174/2013/NĐ-CP ngày 13 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin và tần số vô tuyến điện, quy định mức xử phạt đối với hành vi vi phạm quy định về trang thông tin điện tử, trang thông tin điện tử tổng hợp như sau:

Phạt tiền từ 20 - 30 triệu đồng đối với một trong các hành vi cung cấp nội dung thông tin sai sự thật, vu khống, xuyên tạc, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức và danh dự, nhân phẩm của cá nhân; cung cấp nội dung thông tin không phù hợp với lợi ích đất nước; giả mạo trang thông tin điện tử của tổ chức, cá nhân khác.

(Mức phạt trên được áp dụng đối với tổ chức. Cá nhân thực hiện cùng hành vi vi phạm thì mức phạt tiền bằng 1/2 mức phạt tiền đối với tổ chức).

Từ ngày 15/4/2020, các quy định tại Nghị định số 174/2013/NĐ-CP sẽ được thay thế bởi Nghị định số 15/2020/NĐ-CP ngày 03 tháng 02 năm 2020 của Chính phủ. Theo đó, tại Điều 101 Nghị định 15/2020/NĐ-CP quy định rõ hơn về mức phạt đối với hành vi tung tin giả mạo, sai sự thật trên mạng xã hội, cụ thể:

Phạt tiền từ 10 - 20 triệu đồng đối với hành vi lợi dụng mạng xã hội để thực hiện một trong các hành vi cung cấp, chia sẻ thông tin giả mạo, thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân; cung cấp, chia sẻ thông tin bịa đặt, gây hoang mang trong Nhân dân.

(2) Ngoài việc phạt tiền, người có hành vi vi phạm buộc gỡ bỏ thông tin sai sự thật hoặc gây nhầm lẫn hoặc thông tin vi phạm pháp luật.

(Mức phạt trên được áp dụng đối với hành vi vi phạm hành chính của tổ chức. Trường hợp cá nhân có hành vi vi phạm như của tổ chức thì mức phạt tiền bằng 1/2 mức phạt tiền đối với tổ chức).

Như vậy, cá nhân có hành vi tung tin giả, sai sự thật về bệnh Covid-19 trên mạng xã hội bị xử phạt vi phạm hành chính với mức phạt từ 10 – 15 triệu đồng; kể từ ngày 15/4/2020, mức phạt là từ 5-10 triệu đồng.  

 

 

Tập tin đính kèm:
Hồ Thị Thu Thủy
Các tin khác
Xem tin theo ngày  
Thống kê truy cập
Truy cập tổng 76.583
Truy cập hiện tại 120